NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE ĐÀI KIẾN AN - HTTP://DAIKIENAN.COM

TIẾNG NỔ Ở BẾN TÀU NINH GIANG

  • 3631 lượt xem

 Hồi ký của Đ/c Vũ Đức Năng, quê quán: Văn Đẩu - Kiến An - Hải Phòng

(Nguyên Đại úy, Trung đội trưởng C74, D698, E42)  

                  

Theo mệnh lệnh khẩn của Ban chỉ huy Trung đoàn 42, vào một đêm đầu tháng 12 năm 1952, chúng tôi gồm các đồng chí: Vũ Đức Năng, Nguyễn Văn Ao, Phạm Văn bi (tiểu đoàn 698), Trịnh Công Khương, Nguyễn Văn Rợi, Hoàng Hữu Hà (tiểu đoàn 664) phải có mặt ở Hưng Nhân (Thái Bình) để gặp Ban chỉ huy trung đoàn nhận nhiệm vụ mới. Sau vài ngày nghỉ ngơi, chúng tôi được Trung đoàn phó Nguyễn Tiệp đến thăm hỏi động viên và giao nhiệm vụ.

Ban đầu chúng tôi chỉ được biết rằng sẽ được giao một nhiệm vụ đặc biệt ở một vùng sông nước, trước mắt chúng tôi phải rèn luyện sức khoẻ, tập bơi đường dài và phải tuyệt đối giữ bí mật.

Dưới sự quản lý sự quản lý trực tiếp của Ban tham mưu trung đoàn, chúng tôi được biên chế thành một tổ 6 người do đồng chí Trịnh Công Khương, trung đội trưởng làm tổ trưởng chỉ huy chung, tôi làm tổ phó kiêm tổ trưởng đảng (6 chúng tôi đều là đảng viên).

Theo kế hoạch, chúng tôi bắt đầu thực hiện tập bơi đường dài: bơi từ gần đến xa, nâng cao dần cự ly bơi, bơi xuôi dòng nước, không làm gợn sóng, không gây tiếng động và chủ yếu là tập bơi trong đêm có mang theo một lượng thuốc nổ không nhỏ.

Thời tiết về cuối năm dần trở lạnh, ban đêm ngâm mình bơi lâu dưới nước lại càng lạnh. Những ngày đầu chúng tôi chỉ bơi được trên dưới 1 giờ, về sau nâng dần thời gian bơi lên 2 giờ rồi 3 giờ liền. Đường tập bơi của chúng tôi được thực hiện dọc theo sông Luộc, từ chợ Nội (Hưng Nhân) đến thôn Đại Lẫm (Quỳnh Côi).

Hơn 20 ngày luyện tập, chủ yếu tập bơi trong đêm tối, trước khi xuống nước, mỗi chúng tôi phải uống một chén nước mắm, dùng mỡ Va-dơ-lin trát kín toàn thân để chống lạnh và chống ngấm nước vào lỗ chân lông. Trong quá trình luyện tập, mỗi khi khô cổ khát nước, chúng tôi cũng phải liều mạng làm một ngụm nước sông. Kết thúc mỗi buổi tập, chúng tôi lên bờ theo ven sông đi bộ về nơi xuất phát.

Tuy đời sống của bộ đội còn nhiều khó khăn thiếu thốn nhưng chúng tôi cũng được trung đoàn quan tâm ưu ái cho hưởng chế độ khẩu phần ăn khá hơn anh em khác đôi chút. Vì vậy trong thời gian luyện tập, sức khoẻ được nâng lên rõ rệt, chúng tôi đã đạt được cự ly và thời gian bơi cần thiết và dù luyện tập vất vả, gian khổ nhưng chúng tôi đều an tâm phấn khởi, sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Cuối tháng 12, đồng chí Trịnh Công Khương được cử đi cùng đồng chí Phạm Văn Vách, tiểu đội trưởng trinh sát của trung đoàn để trinh sát, điều tra tại chỗ và nhận mục tiêu chiến đấu. Tôi cùng các đồng chí còn lại tiếp tục luyện tập cho thành thục. Đầu tháng 1 năm 1953, tổ chúng tôi được chính thức phổ biến nhiệm vụ: Ban chỉ huy trung đoàn giao cho 6 anh em chúng tôi mang 1 tạ thuốc nổ, bơi vào đánh một tàu chiến địch. Đây là một con tầu vẫn thường chở hàng quân sự và binh lính từ Hải Phòng đến đậu tại bến Ninh Giang.

Do Tàu địch xuất hiện ở bến Ninh Giang không theo một quy luật nhất định nên kế hoạch tác chiến đã được trung đoàn đề ra tỉ mỉ, rõ ràng. Trinh sát của trung đoàn có nhiệm vụ bán sát căn cứ quân sự của địch ở thị trấn ninh Giang, khi phát hiện thấy tàu về bến phải báo cáo ngay về chỉ huy trung đoàn để quyết định thời điểm hành động. Ban Quân khí trung đoàn phân công đồng chí Đán trực tiếp cùng chúng tôi chuẩn bị thuyền và thuốc nổ. Thuyền làm bằng gỗ, hình thoi, có phao chống đắm, đủ chứa 1 tạ bộc phá, mép thuyền sát mặt nước, dùng vải nhựa có màu phù hợp phủ lên mặt thuyền để nguỵ trang giống như màu nước trong đêm.

Tổ đột kích chúng tôi tiếp tục luyện tập, yêu cầu luyện bơi lần này sát với thực tế chiến đấu bởi có kèm theo phương tiện, trang bị chuẩn bị sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ. Tổ chúng tôi được chia làm 2 nhóm: nhóm thứ nhất do đồng chí Trịnh Công Khương chỉ huy có nhiệm vụ điều khiển thuyền thốc nổ và thực hiện động tác gây nổ, tôi phụ trách nhóm thứ hai có nhiệm vụ đẩy một thuyền chứa đá hộc làm đối trọng có dây nối liền với thuyền thuốc nổ, Khi tiếp cận mục tiêu, sợi dây này sẽ quàng qua mũi tàu để giữ cho 2 thuyền dừng lại, ép sát vào 2 bên mạn tàu, người gây nổ chỉ việc rút kíp nổ rồi bơi nhanh ra khỏi phạm vi nguy hiểm.

Ba đêm liền, chúng tôi thực tập sát với phương án tác chiến, có đêm, chỉ huy trung đoàn cùng  các cán bộ tham mưu, tác chiến, trinh sát đến tận hiện trường quan sát chúng tôi thực tập. Các đồng chí đều cho rằng kỹ thuật bơi và nguỵ trang của chúng tôi rất tốt, đảm bảo tiếp cận mục tiêu một cách bí mật, an toàn.

Thời gian này, tổ chúng tôi cùng bộ phận có liên quan đến trận đánh do Trung đoàn phó Nguyễn Tiệp chỉ huy đã chuyển hẳn về làng Phù Cựu ở bờ Bắc sông Luộc thuộc đất Ninh Giang để chuẩn bị xuất kích.

Chiều ngày 6 - 1 - 1953, trinh sát báo về tàu địch đã xuất hiện ở bến Ninh Giang. Trung đoàn phó Nguyễn Tiệp đã hạ lệnh cho tất cả các bộ phận có liên quan đến trận đánh và tổ chúng tôi chuẩn bị hành động vào ngay đêm ấy.

Từ những đêm trước đó, bộ phận chuẩn bị chiến trường và các đồng chí quân khí của trung đoàn đã mang thuyền thuốc nổ và các thứ cần thiết phục vụ cho trận đánh vào cất giấu ở một thôn có cơ sở kháng chiến mạnh của huyện Ninh Giang nằm gần bờ sông Luộc, cách mục tiêu khoảng 4 - 5km và đây cũng chính là điểm xuất phát trận chiến đấu của chúng tôi!

Cả buổi chiều ngày 6-1, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung đoàn phó, với sự tham gia của cán bộ tham mưu, tác chiến, trinh sát, hậu cần, chúng tôi đã cùng nhau thảo luận rất kỹ về kế hoạch tác chiến cụ thể. Chúng tôi xác định, đây là trận đánh theo cách đánh chưa từng có ở chiến trường Tả Ngạn. Chúng tôi áp dụng chiến thuật “Mật tập” để tiêu diệt mục tiêu ở giữa sông, nằm giữa một khu vực mà xung quanh là đồn bốt địch (phía Hải Dương là căn cứ Ninh Giang, phía Thái Bình là bốt Bến Nhống, phía Vĩnh Bảo là vị trí Tranh Chử ...). Vì chưa có kinh nghiệm đánh địch theo cách này nên chúng tôi đã nêu ra nhiều tình huống, giả thiết khác nhau để thảo luận và tìm ra giải pháp thích hợp như: Nếu chưa tiếp cận được mục tiêu mà bị lộ thì giải quyết ra sao? Vì một lý do nào đó mà không thể đưa được khối thuốc nổ tiếp cận tàu thì xử lý thế nào? Tiêu diệt được mục tiêu rồi thì chiến sĩ ta trở về đơn vị bằng cách nào hoặc bị thương vong thì ai lo liệu ? .v.v.. Tất cả những giả thiết và các tình huống nêu ra đều được thảo luận dân chủ, sôi nổi, nghiêm túc và thận trọng. Cuộc họp đã tìm ra lời giải đáp và những biện pháp đúng đắn khiến chúng tôi vô cùng phấn khởi và an tâm chuẩn bị sẵn sàng vào trận đánh!

8 giờ tối, chúng tôi đến địa điểm tập trung ở xóm cuối làng Phù Cựu. Đồng chí trung đoàn phó, các cán bộ phục vụ trận đánh, một số cán bộ và bà con cơ sở của địa phương đã có mặt tại đây. Biết chúng tôi sắp lên đường ra trận, mọi người đều vồn vã thăm hỏi, chúc chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ chiến thắng trở về. Chúng tôi được nghe thư của Đảng uỷ Trung đoàn, Ban chỉ huy Trung đoàn gửi động viên và lời căn dặn của đồng chí Nguyễn Tiệp rồi cùng nhau hành quân đến địa điểm xuất phát. Chúng tôi lặng lẽ băng qua một cánh đồng, men theo bờ đê sông Luộc đi về hướng thị trấn Ninh Giang. Gần 10 giờ đêm, chúng tôi đến điểm hẹn ở ven sông. Tại đây, mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành. Chúng tôi nhận bàn giao thuốc nổ, thuyền, phao bơi theo đúng phương án tác chiến, chờ thuỷ triều bắt đầu rút về phía mục tiêu là xuất kích!

Đêm về khuya, tiết trời giá lạnh. Trước khi ngâm mình xuống nước, chúng tôi đều phải thực hiện các biện pháp chống lạnh, gửi lại đồng đội tất cả quần áo đang mặc, chỉ mang trên người một quần lót và một phao bơi bằng vải diềm bâu.

11 giờ đêm, nước sông bắt đầu rút mạnh. Trung đoàn phó hạ lệnh xuất kích. Theo sự phân công, xuống sông ngâm mình, bơi đẩy thuyền thuốc nổ tiến về phía tàu địch. Trước lúc chia tay, các đồng chí ở lại đã lội xuống tận mép sông, ôm chặt lấy chúng tôi, chúc mọi người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tuy không nói ra nhưng trong thâm tâm mỗi người chúng tôi đều lắng đọng một ý nghĩ: Trận chiến đấu này có thể là một trận “Ra đi không hẹn trở về!”. Chúng tôi nhận biết điều ấy nên tôi và đồng chí Khương đã hứa với Trung đoàn phó: “Dù khó khăn gian khổ đến đâu, dù phải hy sinh cả tính mạng, chúng tôi cũng quyết tâm hoàn thành bằng được nhiệm vụ của Đảng bộ và Trung đoàn trao cho!”.

Theo tính toán của trinh sát về dòng chảy thì chúng tôi phải bơi khoảng 2 giờ 30 phút, nghĩa là trận đánh sẽ nổ ra từ 1giờ30 đến 2 giờ ngày 7 - 1- 1953. Chúng tôi bơi và đẩy thuyền theo đúng thao tác đã được huấn luyện - điều khiển thuyền đi đúng hướng, nhẹ nhàng, không gây tiếng động, không làm gợn sóng mặt nước, chủ yếu dựa vào tốc độ của dòng chảy để thuyền trôi tự nhiên nên có nhiều thuận lợi để giữ bí mật. Khi tiếp cận mục tiêu thì chúng tôi phải dùng sức để đẩy và giữ cho 2 thuyền trôi theo hàng ngang, đúng vào vị trí con tàu để sợi dây nối liền giữa thuyền bộc phá và thuyền chứa đá quàng vào mũi tàu, giữ cho 2 thuyền dừng lại và ép sát vào 2 bên mạn tàu. Đêm về khuya, nước xuống mạnh, dòng chảy ở giữa sông càng mạnh, khi chúng tôi bơi ra đến giữa sông thì 2 thuyền cùng bị cuốn vào dòng chảy, lúc thì hai thuyền đi sát bên nhau, khi thì thuyền đá đi trước, thuyền thuốc đi sau. Trên đường bơi, chúng tôi cũng rất vất vả giữ cho hai thuyền đi đều nhau theo hàng ngang để khi tiếp cận mục tiêu không bị lúng túng.

Vùng sáng có mục tiêu ở phía trước mỗi lúc hiện ra thêm rõ. Bơi tiếp chừng 40 phút nữa thì vùng sáng ấy đã nằm trong tầm nhìn của chúng tôi. Đó chính là vùng sáng của dãy đèn chiếu sáng bảo vệ dọc theo bờ sông ở khu vực bến tàu Ninh Giang. Hướng theo dãy đèn ấy, chúng tôi vừa bơi, vừa dõi tìm mục tiêu và phát hiện thấy ở vùng sông gần dãy đèn điện có những ngọn đèn từ trên cao hắt ánh sáng xuống mặt nước, có cả những ngọn đèn đỏ treo cố định ở tầm cao thấp khác nhau. Qua những ngọn đèn đỏ báo hiệu tàu neo, chúng tôi biết ở đó có một con tàu cỡ lớn và một số tàu nhỏ đang neo đậu gần bến tàu.

1giờ 40 phút, chúng tôi đã lọt vào vùng sông nằm trong phạm vi kiểm soát của địch ở thị trấn Ninh Giang. Lúc này chúng tôi đã nhìn thấy chiếc tàu cỡ lớn như một toà nhà đồ sộ, đậu lệch về phía sông bên thị trấn và có 4 tàu nhỏ neo đậu ở xung quanh. Chúng tôi đang chuẩn bị đẩy thuyền về phía mục tiêu thì lúc đó trên bờ sông phía thị trấn xuất hiện một toán địch đi tuần tra, chúng lia đèn pin xuống lòng sông và vùng xung quanh, xì xồ nói với nhau điều gì đó. Hai thuyền vẫn đi gần nhau, bỗng đồng chí Khương bơi đến ghé sát tai tôi hỏi: “Nếu bọn chúng phát hiện được thì xử lý thế nào anh Năng ơi?!”. Tôi nói nhanh: “Cứ bình tĩnh, nếu bị lộ sẽ rút kíp cho nổ tung chứ không để chúng bắt sống!”. Nghe vậy, đồng chí Khương nảy ra ý định bố trí lại đội hình, yêu cầu tôi sang cùng đồng chí và đồng chí Rợi điều khiển thuyền thuốc nổ, còn 3 đồng chí Ao, Bi, Hà điều khiển thuyền đá dàn hàng ngang để khi tiếp cận tàu áp thuyền đá vào mạn tàu phía ngoài, thuyền thuốc nổ sẽ áp sát vào mạn tàu phía bờ sông để khi bộc phá nổ thì lật chúng ra phía lòng sông.  

Khi còn cách mục tiêu chừng 150m, đồng chí Khương phát lệnh tách 2 thuyền đi thành hàng ngang, nhanh chóng đột nhập 2 bên mạn tàu. Lòng sông đã hẹp lại do mực nước đã xuống ròng, những mảng bèo tây to nhỏ vẫn nối nhau trôi trên mặt nước chảy xiết, chúng tôi lẩn vào trong những mảng bèo này để che mắt bọn lính gác trên tàu, tiến vào mục tiêu. Sau khi quàng được sợi dây nối liền giữa 2 thuyền vào mũi tàu thì lập tức 2 thuyền theo dòng nước ép sát vào mạn tàu. Khi thuyền đá làm đối trọng ở phía ngoài cố định lại thì ở phía trong chúng tôi tiếp tục nới dây dài thêm ra để đủ cự ly đặt thuyền thuốc nổ vào khoang giữa của con tàu. Thuyền thuốc nổ đã định vị, lúc này ba đồng chí điều khiển thuyền đá ở phía ngoài cũng đã được phép rời khỏi mạn tàu. Đồng chí Khương hạ lệnh phát hoả! Ba chúng tôi, mỗi người phụ trách 5 kíp nổ, đồng loạt rút 15 nụ xoè gây nổ của khối bộc phá 100 kg rồi nhanh chóng rời khỏi mục tiêu, nhẹ nhàng vượt ra khỏi tầm nhìn của những tên lính gác trên tàu.

Theo tính toán của cán bộ thiết kế thì dây cháy chậm đã được bố trí đủ để trước khi khối thuốc phát nổ, vẫn có khoảng thời gian để chúng tôi thoát ra khỏi vùng nguy hiểm! song chúng tôi vẫn tập trung mọi cố gắng bám theo dòng chảy để vượt sang sông, nhưng sự cố gắng ấy cũng chỉ giúp chúng tôi bơi ra xa cách tàu được gần 150m thì khối bộc phá đã phát nổ. Một tiếng nổ dậy đất làm rung chuyển cả một vùng rộng lớn thuộc đất Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Bảo. Tiếng nổ ấy đã làm sóng nước đẩy tôi bật lên rìa bãi, toàn thân bị bùn đất phủ kín. Sau giây phút ngất lịm, tôi tỉnh dậy nhìn về phía Ninh Giang thì toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng trong thị trấn, khu vực bờ sông và bến tàu đã tắt lịm! mọi cảnh vật xung quanh đều chìm trong bóng đêm. Chưa biết đồng đội của mình ai còn, ai mất, tôi bỗng rùng mình sờ lên người thì chiếc quần lót và chiếc áo phao đã biến mất. Tôi quyết định men theo bờ sông đi về điểm hẹn - nếu ai còn sống thì tập trung về mỏm bãi ngã ba sông ở phía đất huyện Phụ Dực (Thái Bình). Hơn 2 giờ đêm thì chúng tôi tìm thấy nhau: Tất cả 6 anh em trong tổ đều còn nguyên vẹn! Chỉ có điều làm chúng tôi lo lắng là tất cả đều “trần” như “nhộng”, chúng tôi ôm lấy nhau cười ra nước mắt và sung sướng vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

Lúc này chúng tôi mới thấy thấm mệt, bụng đói cồn cào, toàn thân run lên vì rét! Chúng tôi ngồi sát vào nhau cho đỡ lạnh, tranh thủ nghỉ lấy lại sức và bàn cách giải quyết những công việc tiếp theo đang đặt ra: Lấy gì che thân cho mọi người ? Rút theo đường nào thì về được nơi an toàn ?. Căn  cứ vào các tình huống đã được thảo luận và dự kiến khi chuẩn bị trận đánh thì tình hình của chúng tôi lúc này đang diễn ra theo tình huống 3 – nghĩa là hoàn thành nhiệm vụ rồi thì rút về đâu. Từ suy nghĩ “Sống chết vẫn phải bám vào dân!”, chúng tôi đi đến thống nhất vượt qua sông Tranh sang đất Vĩnh Bảo rồi tìm về khu căn cứ Thái Ninh (Thái Bình), ở đó sẽ có đường dây liên hệ với đơn vị. Để giải quyết vấn đề “lấy gì che thân”, chúng tôi bơi qua sông, đến một bãi bồi cây cỏ um tùm, ngắt những cây cói, cây năn bện thành từng dây, từng mảng rồi quấn quanh người từ bụng xuống đùi, giống như người rừng mặc váy ngắn bằng lá cây, trông thật ngộ nghĩnh và bật cười. Chúng tôi băng qua một cánh đồng rồi dò dẫm vào một thôn nhỏ nằm sát bờ sông Luộc, mờ sáng ngày hôm ấy, vừa vào đến đầu thôn thì có khoảng hơn chục người, tay cầm gậy, dao, cuốc, xẻng  vây chặt xung quanh hô chúng tôi đứng lại. Một người cất cao giọng hỏi:

- Các anh ở đâu, đến đây làm gì?

Biết rằng cả khu vực này vẫn nằm trong sự khống chế của địch nhưng cơ sở kháng chiến bí mật của ta trong vùng cũng khá mạnh nên tôi liền đáp lại:

Chúng tôi là bộ đội Cụ Hồ, đêm qua bơi vào bến Ninh Giang đánh tàu chiến địch, bà con ta chắc cũng nghe rõ tiếng nổ, chúng tôi rút về đây trơ trọi như thế này, nếu bà con là những người ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Cụ Hồ thì giúp đỡ cho chúng tôi cơm ăn, quần áo mặc và chỉ đường cho chúng tôi về nơi an toàn.

Một người lại nói:

Chúng tôi không biết chuyện gì hết, chỉ biết các ông là Việt Minh, chúng tôi sẽ dẫn giải các ông về Ninh Giang!

Thế rồi họ đưa chúng tôi vào tập trung trong một căn nhà ở giữa xóm, có hai người đàn ông canh gác. Chúng tôi nói với nhau: Nếu họ có ý định đưa chúng tôi nộp cho bọn địch ở Ninh Giang thì còn bắt chúng tôi tập trung ở đây làm gì! Ít nhất họ cũng bắt trói chúng tôi lại và giải lên bốt Tranh Chử ở gần đó chứ! Chúng tôi động viên nhau an tâm, tin tưởng, kiên nhẫn chờ đợi. Đến gần 10 giờ có một thanh niên, một phụ nữ tuổi gần 30, đem đến cho chúng tôi mỗi người 1 quần đùi, 1 áo may ô, 1 nắm cơm - muối vừng và nói với chúng tôi: “Các ông cứ an tâm chờ ở đây, bao giờ có lệnh của chúng tôi thì các ông mới được rời khỏi nơi này!”. Chúng tôi cảm ơn họ rồi cùng nhau thay quần áo và ăn một bữa cơm nắm chấm muối vừng thật là ngon miệng!

Cả ngày 1-7, tình hình vẫn bình thường, họ vẫn bắt chúng tôi tập trung trong nhà, có người canh gác cẩn thận. Đến 5 giờ chiều thì hai người mang cơm và quần áo cho chúng tôi khi sáng lại xuất hiện, họ lại đem cho chúng tôi mỗi người một nắm cơm, một gói muối vừng mời chúng tôi ăn và nói: Các ông ăn cơm xong, tối nay chúng tôi sẽ giải các ông về trao cho quân Tây ở Thái Bình!

Thế là rõ rồi, bắt được Việt Minh ở Vĩnh Bảo lại để đến tối mới đem nộp cho Tây ở Thái Bình! Có mấy cậu nhanh trí đoán ra liền ghé sát tai chúng tôi thì thầm: “Anh Khương, anh Năng ơi! Chúng ta sống rồi! Chúng ta chắc chắn được trở về với đơn vị rồi!”. Và đúng như vậy, tối hôm đó có hai anh thanh niên cao lớn, nhanh nhẹn, trong lưng áo có gài mấy quả lựu đạn đến dẫn chúng tôi đi vượt qua đường 10 về hướng Thái Bình. Chúng tôi lặng lẽ đi theo, khi đến bờ sông Lạng Tình (một con sông nhỏ, giáp ranh giữa Vĩnh Bảo và Thái Bình) thì họ dừng lại và chỉ đường cho chúng tôi đi về khu an toàn. Đến lúc này, chúng tôi mới được biết hai thanh niên dẫn đường chính là người của đường dây giao liên của cơ quan kháng chiến huyện Vĩnh Bảo. Đến gần sáng ngày 8-1, chúng tôi về đến chợ Gộc (khu căn cứ kháng chiến của ta ở Thái Bình). Được cơ quan kháng chiến và nhân dân giúp đỡ, 3  ngày sau chúng tôi về đến Trung đoàn và lúc đó chúng tôi mới được biết: Sau khi trận đánh nổ ra, Trung đoàn đã cấp tốc cử người đi liên hệ với các cơ sở kháng chiến của ta ở vùng ven sông Luộc, sông Tranh để tìm kiếm tin tức của chúng tôi. Chúng tôi vô cùng sung sướng được tin tiếng nổ của khối bộc phá 100kg lúc 2 giờ ngày 7-1 ở bến tàu Ninh Giang đã đánh chìm 1 tàu chiến LCT, 4 ca-nô của thuỷ đội 4 trực thuộc khu căn cứ quân sự Ninh Giang, diệt 30 thuỷ binh, phá huỷ 2 khẩu pháo 75 ly, 1 pháo “bôpho” 40 ly, 4 khẩu pháo 40 ly.

Chiến thắng oanh liệt ngay trong lòng địch này đã làm nức lòng quân dân ta ở vùng hậu địch, bọn sĩ quan, binh lính địch thì hoang mang, khiếp sợ. Tất cả cán bộ, chiến sĩ trong tổ bộc phá đánh tàu đều được Bác Hồ và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ (nay là Huân chương Chiến công). Riêng đồng chí Trịnh Công Khương được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.